Việt Nam có nghĩa là gì? Tên gọi Việt Nam có từ khi nào | Atabook.com
Cập nhật lần cuối vào ngày 26/03/2019

Việt Nam có nghĩa là gì? Tên gọi Việt Nam có từ khi nào?

Atabook.com - Chia sẻ. Kết nối. Truyền cảm hứng.
Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long)(1) đã phái hai đoàn sứ giả sang Trung Quốc. Một đoàn do thượng thư bộ Hộ là Trịnh Hoài Đức(2) làm chánh sứ, đem trao trả lại sắc ấn mà triều Thanh đã phong cho nhà Tây Sơn. Đoàn kia do thượng thư bộ Binh là Lê Quang Định(3) làm chánh sứ, xin phong vương cho Nguyễn Ánh và xin đặt quốc hiệu là Nam Việt.

Cũng năm 1802, nhà Thanh chuẩn danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam. Nhưng đến năm Giáp Tý (1804) tức năm Gia Long thứ ba, Án sát Quảng Tây là Tề Bồ Sâm mới được vua Thanh phái sang mang cáo sắc, quốc ấn đến Thăng Long để làm lễ phong vương cho Nguyễn Ánh.

Như vậy, quốc hiệu Việt Nam được công nhận từ năm 1802 nhưng phải đến năm 1804 mới được thừa nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao.

 
Vua Gia Long (1762 - 1820)
Vua Gia Long (1762 - 1820)

Tuy nhiên, không phải đến tận đầu thời Nguyễn thì cái tên Việt Nam mới xuất hiện. Tên gọi Việt Nam đã được biết đến ít nhất từ thế kỷ 14, thường thấy trong nhiều thư tịch đương thời, chẳng hạn như: Việt Nam thế chí tự  (越南世志序) của Hồ Tông Thốc(4), Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Dư địa chí  của Nguyễn Trãi, Trình tiên sinh quốc ngữ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn,....

Tên gọi Việt Nam có lẽ mang ý nghĩa kết hợp nòi giống và vị trí cư trú địa lý của dân tộc ta (Việt Namnước của người Việt ở phía Nam) thể hiện niềm tự tôn, tinh thần độc lập và phủ nhận sự áp đặt, miệt thị của người Trung Quốc. Tuy nhiên, nó chưa trở thành quốc hiệu vì chưa được các triều đại phong kiến nước ta tuyên bố hoặc ghi nhận bằng pháp luật.

Sau khi lên nối ngôi vua Gia Long, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam (1838) và cái tên Việt Nam không còn thông dụng như trước nữa. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí sĩ yêu nước, trong nhiều tác phẩm và tên tổ chức chính trị: Phan Bội Châu viết Việt Nam vong quốc sử (năm 1905) rồi cùng Cường Để thành lập Việt Nam công hiến hội (năm 1908), Việt Nam quang phục hội (năm 1912), Phan Chu Trinh viết Pháp – Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược, Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (năm 1925) và Việt Nam độc lập đồng minh hội (1941), . . .

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, trao chính quyền hình thức cho Bảo Đại, Bảo Đại đổi quốc hiệu từ Đại Nam sang Việt Nam. Ngày 19/8/1945, cách mạng tháng Tám thành công, Bảo Đại thoái vị. Ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Hiến pháp năm 1976 chính thức thể chế hóa quốc hiệu này và đổi thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Chú thích

(1)  Gia Long (chữ Hán: 嘉隆; 8 tháng 2 năm 1762 – 3 tháng 2 năm 1820), tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎, thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh), là Hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.

(2) Trịnh Hoài Đức (chữ Hán: 鄭懷德; 1765 - 1825), còn có tên là An (安), tự Chỉ Sơn (止山), hiệu Cấn Trai (艮齋); là một công thần của triều Nguyễn, là một nhà thơ, nhà văn và là một sử gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 18. Đặc biệt, quyển Gia Định thành thông chí của ông cho đến nay vẫn được xem là một trong những sử liệu quan trọng nhất cho các nhà nghiên cứu sử học và địa lý của miền Nam Việt Nam.

(3) Lê Quang Định (chữ Hán: 黎光定; 1759 - 1813), là văn thần đầu đời Nguyễn, và là nhà thơ có tiếng trong nhóm Sơn Hội ở Gia Định và Bình Dương thi xã. Ông cùng Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh (1761 - 1813) được người đương thời xưng tụng là Gia Định tam gia của đất Gia Định xưa.

(4) Trích trong tuyển tập Thơ văn Lý- Trần (tập 3) - trang 75. 
Việt Nam thế chí là một cuốn sách sử biên soạn về các đời vua của nước ta, song đến nay đã thất truyền, chỉ còn lại bài tự này. Theo khảo cứu, hai chữ Việt Nam xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử là từ tập sách này. Nguyên văn bài tự này như sau:

越南世志序  

世志之作,其來尚矣。考諸既往,以明乎端本之流傳;稽諸傳聞,以著乎古今之標準。第信疑相間,有未盡于人心。然世變各殊,豈不涉于怪誕。千年而下,難以概詳,按索簡編,曷克查究,輯校窮原,寸懷勞苦。或有問于余曰:舍怪存常聖賢之道也,子何乃拘于印舊,而徇然不著明新信,以革世之惑耶?
余答曰:太古之初,混沌未判,中土猶有漫茫之說,如補天觸山奠鰲十日之類,後世據經論議會計無門,是耶非耶,存之史冊。況我越,地在天末,風鑒各殊。蓋自洪荒之始,緇塵迥隔,草昧乾坤,文籍未具,禮樂未作,以為誠有耶,曷克而知焉,以為誠無耶,莫從何而可考。是故,拾遺餘響,得之傳言,采摭其類,以紹記耳。其奇怪之跡,寥然難稽,故存之,以俟後君子,豈敢有穿鑿毀言以誣世惑民者乎?讀者須留心以細認,刻抑推驗,則玉石彰然,著明其形聲影響,不敢自潰矣。
且,我南天疆宇,炎壤之墟,塵海茫茫,英君大作雖江山溟漠,辯別靡常:自亙古以來,總關俗跡,詢載于已往,靳憑耆耄之傳。檢驗于相稽,現有廟堂之奉。拙時忘其故陋,述簡寓略其所遺;蓋欲俟後之進步博格高明者,朗日憶情,庶乎知所先後,無自錯誤。倘若,正諸其靈,工諸筆端,削剝研精,刊行于世,使人人洞察古今,默會玄微,其亦傳中之史記歟!是為序。


Việt Nam thế chí tự

Thế chí chi tác, kỳ lai thượng hỹ. Khảo chư ký vãng, dĩ minh hồ đoan bản chi lưu truyền; kê chư truyền văn, dĩ trứ hồ cổ kim chi tiêu chuẩn. Đệ tin nghi tương gián, hữu vị tận vu nhân tâm. Nhiên thế biến các thù, khởi bất thiệp vu quái đản. Thiên niên nhi hạ, nan dĩ khái tường, án sách giản biên, hạt khắc tra cứu, tập hiệu cùng nguyên, thốn hoài lao khổ. Hoặc hữu vấn vu dư viết: Xả quái, tồn thường thánh hiền chi đạo dã, tử hà nãi câu vu ấn cựu, nhi tuẫn nhiên bất trứ minh tân ngôn, dĩ cách thế chi hoặc da?

Dư đáp viết: Thái cổ chi sơ, hỗn độn vị phán, trung thổ do hữu mạn mang chi thuyết, như bổ thiên, xúc sơn, điện ngao, thập nhật chi loại, hậu thế cứ kinh luận nghị cối kế vô môn, thị da, phi da, tồn chi sử sách. Huống ngã Việt, địa tại thiên mạt, phong giám các thù. Cái tự hồng hoang chi thuỷ, truy trần quýnh cách, thảo muội càn khôn, văn tịch vị cụ, lễ nhạc vị tác, dĩ vi thành hữu da, hạt khắc nhi tri yên, dĩ vi thành vô da, mạc tòng hà nhi khả khảo. Thị cố, thập di dư hưởng, đắc chi truyền ngôn, thái chích kỳ loại, dĩ thiệu thế ký dĩ. Kỳ kỳ quái chi tích, liêu nhiên nan kê, cố tồn chi, dĩ sĩ hậu quân tử, khởi cảm hữu xuyên tạc huỷ ngôn dĩ vu thế hoặc dân giả hồ. Độc giả tu lưu tâm dĩ tế nhận, khắc ức suy nghiệm, tắc ngọc thạch chương nhiên, trứ minh kỳ hình thanh ảnh hưởng, bất cảm tự hội hỹ.

Thả, ngã Nam thiên cương vũ, viêm nhưỡng chi khư, trần hải mang mang, anh quân đại tác tuy giang sơn minh mạc, biện biệt mỹ thường: Tự cắng cổ dĩ lai, tổng quan tục tích, tuân tái vu dĩ vãng, ngận bằng kỳ mạo chi truyền. Kiểm nghiệm vu tương kê, hiện hữu miếu đường chi phụng. 

Chuyết thời vong kỳ cố lậu, thuật giản ngụ lược kỳ sở di; cái dục sĩ hậu chi tiến bộ bác cách cao minh giả, lãng nhật ức tình, thứ hồ tri sở tiên hậu, vô tự thác ngộ. Thảng nhược, chính chư kỳ linh, công chư bút đoan, tuớc bác nghiên tinh, san hành vu thế, sử nhân nhân động sát cổ kim, mặc hội huyền vi, kỳ diệc truyện trung chi sử ký dư! Thị vi tự.

QUẢNG CÁO
Địa danh học Việt Nam

Mua sách trên Tiki
Bình luận (0)