Việt Nam có nghĩa là gì? Tên gọi Việt Nam có từ khi nào | Atabook.com
Cập nhật lần cuối vào ngày 02/03/2019

Việt Nam có nghĩa là gì? Tên gọi Việt Nam có từ khi nào?

Atabook.com - Chia sẻ. Kết nối. Truyền cảm hứng.
Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long)(1) đã phái hai đoàn sứ giả sang Trung Quốc. Một đoàn do thượng thư bộ Hộ là Trịnh Hoài Đức(2) làm chánh sứ, đem trao trả lại sắc ấn mà triều Thanh đã phong cho nhà Tây Sơn. Đoàn kia do thượng thư bộ Binh là Lê Quang Định(3) làm chánh sứ, xin phong vương cho Nguyễn Ánh và xin đặt quốc hiệu là Nam Việt.

Cũng năm 1802, nhà Thanh chuẩn danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam. Nhưng đến năm Giáp Tý (1804) tức năm Gia Long thứ ba, Án sát Quảng Tây là Tề Bồ Sâm mới được vua Thanh phái sang mang cáo sắc, quốc ấn đến Thăng Long để làm lễ phong vương cho Nguyễn Ánh.

Như vậy, quốc hiệu Việt Nam được công nhận từ năm 1802 nhưng phải đến năm 1804 mới được thừa nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao.

 
Vua Gia Long (1762 - 1820)
Vua Gia Long (1762 - 1820)

Tuy nhiên, không phải đến tận đầu thời Nguyễn thì cái tên Việt Nam mới xuất hiện. Tên gọi Việt Nam đã được biết đến ít nhất từ thế kỷ 14, thường thấy trong nhiều thư tịch đương thời, chẳng hạn như: Việt Nam thế chí tự  (越南世志序) của Hồ Tông Thốc, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Dư địa chí  của Nguyễn Trãi, Trình tiên sinh quốc ngữ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn,....

Tên gọi Việt Nam có lẽ mang ý nghĩa kết hợp nòi giống và vị trí cư trú địa lý của dân tộc ta (Việt Namnước của người Việt ở phía Nam) thể hiện niềm tự tôn, tinh thần độc lập và phủ nhận sự áp đặt, miệt thị của người Trung Quốc. Tuy nhiên, nó chưa trở thành quốc hiệu vì chưa được các triều đại phong kiến nước ta tuyên bố hoặc ghi nhận bằng pháp luật.

Sau khi lên nối ngôi vua Gia Long, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam (1838) và cái tên Việt Nam không còn thông dụng như trước nữa. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí sĩ yêu nước, trong nhiều tác phẩm và tên tổ chức chính trị: Phan Bội Châu viết Việt Nam vong quốc sử (năm 1905) rồi cùng Cường Để thành lập Việt Nam công hiến hội (năm 1908), Việt Nam quang phục hội (năm 1912), Phan Chu Trinh viết Pháp – Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược, Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (năm 1925) và Việt Nam độc lập đồng minh hội (1941), . . .

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, trao chính quyền hình thức cho Bảo Đại, Bảo Đại đổi quốc hiệu từ Đại Nam sang Việt Nam. Ngày 19/8/1945, cách mạng tháng Tám thành công, Bảo Đại thoái vị. Ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Hiến pháp năm 1976 chính thức thể chế hóa quốc hiệu này và đổi thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Chú thích

(1)  Gia Long (chữ Hán: 嘉隆; 8 tháng 2 năm 1762 – 3 tháng 2 năm 1820), tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎, thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh), là Hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.

(2) Trịnh Hoài Đức (chữ Hán: 鄭懷德; 1765 - 1825), còn có tên là An(安), tự Chỉ Sơn (止山), hiệu Cấn Trai (艮齋); là một công thần của triều Nguyễn, là một nhà thơ, nhà văn và là một sử gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 18. Đặc biệt, quyển Gia Định thành thông chí của ông cho đến nay vẫn được xem là một trong những sử liệu quan trọng nhất cho các nhà nghiên cứu sử học và địa lý của miền Nam Việt Nam.

(3) Lê Quang Định (chữ Hán: 黎光定; 1759 - 1813), là văn thần đầu đời Nguyễn, và là nhà thơ có tiếng trong nhóm Sơn Hội ở Gia Định và Bình Dương thi xã. Ông cùng Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh (1761 - 1813) được người đương thời xưng tụng là Gia Định tam gia của đất Gia Định xưa.

An Nam truyện - Atabook.com          Sự sinh thành Việt Nam | Atabook.com          Tìm hiểu văn hóa thời đại Hùng Vương | Atabook.com
Bình luận (1)