Mã tà là gì | Atabook.com
Cập nhật lần cuối vào ngày 12/12/2022

Mã tà là gì?

Quang Nguyễn
Quang Nguyễn 

Có ý kiến phân biệt mã tà với ma tà. Theo đó, ma tà dùng để chỉ cảnh sát người Việt thời Pháp thuộc, theo phiên âm từ tiếng Mã Lai mata – mata. Còn mã tà dùng để gọi lính tác chiến người Việt trong đạo quân viễn chinh của Pháp ở Sài Gòn.

Khu trại lính matas (mã tà)
Khu trại của lính Matas (mã tà - lính cảnh sát địa phương). Ảnh tư liệu 

 
Để rộng đường tham khảo, chúng ta dựa vào sự kiện lịch sử sau:

Tháng 3/1861, sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ, hệ thống chính quyền của người Việt trong vùng Pháp chiếm tan rã hoàn toàn. Để giữ đất và coi dân, phó đô đốc Charner phải bổ nhiệm một số sĩ quan Pháp vào các chức vụ giám đốc/thanh tra bản xứ sự vụ (directeur/inspecteur des affaires indigènes). Các phủ huyện người Tây này được toàn quyền hành động để tái lập và vận hành trở lại hệ thống chính quyền trong vùng đất mình chịu trách nhiệm: sửa sang công đường, xét xử các vụ kiện cáo, chỉ định người coi làng xã, lập sổ thuế, đăng bộ ghe thuyền, quản lý Hoa kiều, tổ chức lại hệ thống ngựa trạm.

Các đồn binh Pháp có nhiệm vụ yểm trợ cho chính quyền mới. Tuy nhiên các quan bản xứ sự vụ chủ yếu phải dựa vào lực lượng cảnh sát gọi là mata (corps de police des matas) do chính họ tuyển mộ trong số những người Việt chịu ra cộng tác. Lính mata thuộc quyền chỉ huy, điều động của các quan cai trị người Tây chỉ làm công việc cảnh sát tại địa phương, cụ thể là canh gác nhà tù, bảo vệ công sở, quản lý trị an, để quân viễn chinh rảnh tay tổ chức các chiến dịch quân sự.

Như vậy, mã tà (hay ma tà) vốn là tên dùng để chỉ cảnh sát người Việt được điều động bởi các quan cai trị người Tây.

Năm 1880 lực lượng mata được cải danh thành garde civile (tiếng Việt dịch là bảo an đoàn, nhưng dân gian (người Việt) vẫn gọi thứ lính đó là mã tà[1]. Lúc này có thể dạng ma tà đã xuất hiện rồi: từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Paulus Của Paulus không ghi mã tà mà chỉ có ma tà và giải thích là lính canh tuần.

Chú thích

[1] Có khoảng 1800 người bản xứ làm mata cho Tây.
 

Sách hay viết về An Nam


• Tâm lý dân tộc An Nam là công trình nghiên cứu được Paul Giran - một quan chức cai trị thuộc địa Pháp, xuất bản vào năm 1904 sau hơn ba năm thu thập và tích lũy quan sát ở Đông Dương, để phục vụ công cuộc thực dân của nước Pháp trên đất An Nam.

• Hội kín xứ An Nam dành cho những ai thấy tò mò về “hội kín”, “phù thủy”, “nhà sư, chùa chiền và hội kín”; những nhà nghiên cứu về bối cảnh xã hội Việt Nam thời xưa: Việt Nam Quang Phục Hội, Hội Duy Tân…, cùng loạt nhân vật lịch sử luôn thu hút: Phan Bội Châu, Cường Để, Nguyễn Thần Hiến, Gilbert Chiếu Trần Chánh Chiếu, Đề Thám, Phan Xích Long…

• Đế quốc An Nam và người dân An Nam gồm hai chuyên luận Những người Châu Âu ở nước An Nam và Thương Điếm Anh ở Đàng ngoài. Tác giả Ch. B Maybon đã dựng lên một toàn cảnh về sự có mặt và hoạt động của các giáo sĩ và thương nhân phương Tây ở An Nam trong hai thế kỷ XVII và XVIII.  
Bình luận (0)