Chăm pa là nước nào | Atabook.com
Cập nhật lần cuối vào ngày 24/11/2022

Chăm Pa là nước nào?

Quang Nguyễn
Quang Nguyễn

Chăm Pa là tên một vương quốc ở miền trung Việt Nam từng tồn tại từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 19 với cương vực lãnh thổ kéo dài từ dãy Hoành Sơn (Quảng Bình) đến Bình Thuận và từ biển Đông cho đến giáp tỉnh Champasak phía tây nam nước Lào hiện nay. 
 

Chăm Pa nghĩa là gì?


Tên gọi Chăm Pa bắt nguồn từ tiếng Sanskrit[1] चम्पापुर Campāpura, được đặt theo tên của một thành phố cổ gần Bhagalpur thuộc bang Bihar miền đông Ấn Độ hiện nay. Việc đặt tên quốc gia từ các địa danh có sẵn ở Ấn Độ vốn là thói quen của nhiều nước Đông Nam Á thời bấy giờ vì nền văn hóa Ấn Độ lúc đó có tầm ảnh hưởng rất lớn đến các quốc gia này. 

Về từ nguyên, Chăm Pa là phiên âm từ tiếng Sanskrit चम्पा Campā dùng để chỉ loài sứ hoa vàng, hay còn gọi là cây đại, tên khoa học là Magnolia champaca (L.) Baill. ex Pierre. Loài hoa này được trồng khá phổ biến ở miền Nam Châu Á. Ở Lào, hoa Chăm Pa (gọi là Dok Champa) còn được chọn là quốc hoa của quốc gia này. 

चम्पापुर Campāpura trong tiếng Sanskrit nghĩa là "thành phố hoa sứ"; trong đó चम्पा Campā = hoa sứ, पुर pura = thành phố/ thị trấn/ kinh thành.
 
Chăm Pa vốn là tên của loài hoa sứ
Chăm Pa vốn là tên của loài sứ hoa vàng. Ảnh: Pixabay
 

Tên gọi Chăm Pa có từ lúc nào? 


Quốc hiệu Chăm Pa bắt đầu từ lúc nào không rõ, chỉ biết rằng bi ký[2] sớm nhất có nhắc đến tên gọi Chăm Pa được khắc vào năm 658 (thế kỷ 7) trên bia đá tại thánh địa Mỹ Sơn (thuộc tỉnh Quảng Nam). 

Thật ra, tên gọi Champa mới được sử dụng từ đầu thế kỷ 20 bởi các học giả phương Tây với một loạt công trình nghiên cứu về quốc gia này. Ở Việt Nam, danh xưng Chăm Pa dùng thay thế Chiêm Thành cũng chỉ mới được sử dụng rộng rãi và phổ biến từ thập niên 90 của thế kỷ 20, nhất là từ sau hội thảo quốc tế do UNESCO tổ chức năm 1994 tại Hà Nội và Huế. 

Nếu chiếu theo thư tịch cổ Trung Quốc thì Chăm Pa có 3 quốc danh, đó là Lâm Ấp, Hoàn Vương và Chiêm Thành[3]

Trong quyển Dân tộc Chàm lược sử xuất bản tại Sài Gòn năm 1965, hai tác giả Dohamide và Dorohiem cho biết: "Người Chàm lập quốc từ năm 192, hồi đó nước Việt Nam còn đang bị người Trung Hoa đô hộ. Đó là nước Lâm Ấp. Đến thế kỷ thứ VIII, ta thấy sử Trung Hoa dùng danh từ Hoàn Vương để chỉ Vương Quốc của người Chàm. Và từ cuối thế kỷ thứ IX, ta thấy Vương Quốc Chàm được gọi là Chiêm Thành".  
 

Chăm Pa có phải là quốc gia của người Chăm?


Thật ra, Chăm Pa là một quốc gia đa chủng gồm những cộng đồng tộc người như Chăm, Bana (Bahnar), Ê-đê (Rhade), Gia Rai (Jrai), Xtiêng (Stieng), Ra Glay (Raglai), Xơ Đăng (Sedang), Chu-ru (Churu), Mạ, ... chứ không phải là vương quốc của riêng dân tộc Chăm. 

Nói khác đi, người Chăm chỉ là một bộ phận sắc tộc trong cộng đồng tộc người của vương quốc Chăm Pa mà thôi. Việc đặt tên quốc gia là Chăm Pa chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa tên một địa danh có sẵn ở Ấn Độ (Campāpura) và tên dân tộc Chăm (Cam Chăm), vì người Chăm vốn là sắc tộc có nguồn gốc từ chủng tộc Mã Lai - Đa Đảo (Malayo - Polynesien) di cư đến đất liền Đông Nam Á vào thời đại văn hóa Sa Huỳnh ở thế kỷ 1 và 2 trước Công Nguyên, tức là xuất hiện từ rất lâu trước khi nhà nước Chăm Pa thành lập vào thế kỷ 2 sau công nguyên

Ngay cả danh xưng Chiêm Thành (chữ Hán: 占城) cũng là dịch từ tiếng Sanskrit của chữ चम्पापुर Campāpura, trong đó Chiêm là phiên âm của चम्पा Campā, còn Thành là từ chuyển ngữ của पुर pura nghĩa là kinh thành/ thành phố. Cho nên, một số tài liệu ghi người Chăm còn gọi là người Chiêm hoặc người Chiêm Thành là không chính xác.

Lý do có sự nhầm lẫn rằng Chăm Pa là quốc gia của riêng dân tộc Chăm, theo chúng tôi [Quang Nguyễn], có 4 lý do chính sau:

1. Mặc dù cương vực rộng (bao gồm cả Tây Nguyên với cộng đồng tộc người phong phú như 
Bana, Gia Rai, Ra Glay, Xơ Đăng, Chu-ru, ...) nhưng vương quốc Chăm Pa chủ yếu tập trung ở khu vực duyên hải miền Trung - nơi dân tộc Chăm sinh sống đông đảo và thống trị vương quốc, còn các tộc người khác được coi là những “người mọi (savage) ở những vùng rừng núi" [4]

2. Các thư tịch cổ, sách sử, văn bản ngoại giao, ... của Trung Quốc, Việt Nam hầu hết ghi nhận vương quốc Chăm Pa đều liên quan đến dân tộc Chăm với các vị vua Chăm Pa là người Chăm. 

3. Các di tích còn lại của các công trình đền tháp xây bằng gạch, các bi ký,... hầu hết ghi dấu ấn của dân tộc Chăm. 

4. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa quan tâm nghiên cứu mối liên quan mật thiết giữa 
lịch sử miền đất Tây Nguyên với Chăm Pa, kể cả sau khi Tây Nguyên tách khỏi lịch sử Chăm Pa từ năm 1471. 


Kinh đô của Chăm Pa nằm ở đâu?


Chăm Pa không phải là một vương quốc có thể chế chính trị trung ương tập quyền mà là một tập hợp của nhiều địa khu theo trục thẳng đứng từ Bắc chí Nam. Trong quá trình lịch sử của Chăm Pa, có 5 địa khu sau đây:

Bản đồ 5 tiểu quốc Chăm Pa
Bản đồ 5 địa khu Chăm Pa. Ảnh: Po Dharma

1. Indrapura (875 - 982): địa bàn tương ứng với tỉnh Quảng Nam ngày nay. Đây là thời kỳ Chăm Pa bắt đầu có tên gọi là Chiêm Thành. Kinh đô của Indrapura là thành phố Indrapura, nay thuộc địa phận làng Đồng Dương, xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. "Thành phố Sư tử" Simhapura (hoặc Sinhapura) cũng từng là kinh đô của Indrapura, nay thuộc làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. 

2. Amaravati (657 - 1471): địa bàn tương ứng với thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam ngày nay. Amāravatī vốn là tên của một thành phố miền nam Ấn Độ thời cổ đại [nay thuộc bang Andhra Pradesh  - Ấn Độ)]; còn thư tịch, sử sách Trung Quốc thường gọi Amāravatī là Cựu Châu. Amāravatī từng có 3 kinh đô là Indrapura (nay thuộc tỉnh Quảng Nam), Simhapura (nay thuộc tỉnh Quảng Nam) và Kandapurpura (còn gọi là Phật Thệ/ Phật Thành, nay thuộc Thừa Thiên Huế).

3. Vijaya (988 - 1471): địa bàn tương ứng với tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên ngày nay. Kinh đô của Vijaya cũng là thành phố cùng tên Vijaya mà trong sách sử của người Việt gọi là Chà Bàn hoặc Đồ Bàn, nay thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. 
 
4. Kauthara (757 - 1653): địa bàn tương ứng với tỉnh Khánh Hòa ngày nay. Kinh đô của Kauthara là thành phố Kauthara, nay thuộc địa phận thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

5. Panduranga (757 - 1832): địa bàn tương ứng với tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay. Kinh đô của Panduranga là Virapura (nghĩa là thành phố Chiến Thắng) nay thuộc địa phận 2 huyện Ninh Phước và Thuận Nam của tỉnh Ninh Thuận. 
 

Vương quốc Chăm Pa tồn tại bao lâu? 

 
Hầu hết các nghiên cứu về Chăm Pa đều cho rằng sự ra đời của vương quốc Chăm Pa [với sự kiện thành lập nước Lâm Ấp - tiền thân của nước Chăm Pa sau này] bắt đầu từ năm 192 sau công nguyên, tức là vào thời niên hiệu Sơ Bình 初平 (190–193) của Hán Hiến Đế nhà Đông Hán (Trung Quốc).

Tài liệu đầu tiên mô tả sự ra đời của nước Lâm Ấp là Thủy Kinh chú - một quyển sách viết về hệ thống sông ngòi thời Cổ đại của Trung Quốc do người thời Tam Quốc biên soạn nhưng đến nay chưa rõ tác giả.  

Đến đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu Maspero trong công trình về vương quốc Champa xuất bản vào năm 1928 đã sử dụng cứ liệu từ Thủy Kinh chú để cho rằng Lâm Ấp ra đời từ năm 192. Từ đây, năm 192 được xem là năm "chuẩn mực" cho thời điểm ra đời của Lâm Ấp trong phần lớn các nghiên cứu về Lâm Ấp và Chăm Pa! 

Tuy nhiên, đã có ý kiến phản bác cứ liệu này, điển hình là học giả Đào Duy Anh. Ông cho rằng Thủy Kinh chú đã chép nhầm giữa niên hiệu Sơ Bình 初平(190 – 193) đời Hán Hiến Đế với niên hiệu Vĩnh Hòa 永和 (136-141) đời Hán Thuận Đế. Theo đó, Đào Duy Anh cho rằng nước Lâm Ấp ra đời từ năm thứ hai niên hiệu Vĩnh Hòa, tức năm 137 mới chính xác. 

Như vậy, về sự ra đời của vương quốc Chăm Pa, chúng ta có thể tạm thời ghi nhận hai cột mốc: hoặc là năm 192 hoặc là năm 137, mặc dù chúng tôi [Quang Nguyễn] cũng chưa chắc chắn rằng dân nước Lâm Ấp đã có phải là dân của vương quốc Chăm Pa - tức quốc gia mà sử sách ghi là Chiêm Thành, hay không!?
 
   
Giai đoạn từ 1771 đến 1802, trong suốt cuộc chiến giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn Ánh, vương quốc Chăm Pa không còn tồn tại với danh nghĩa là một quốc gia độc lập và tự chủ nữa, khi:

- B
iên giới hoàn toàn bị xóa bỏ trên bản đồ

- Mọi cơ cấu tổ chức chính trị và xã hội hoàn toàn bị sụp đổ


Các tầng lớp lãnh đạo và nhân dân Chăm pa chia thành hai phe nhóm, nhóm theo nhà Tây Sơn và nhóm theo Nguyễn Ánh.

Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho tái lập lại vương hiệu Chăm Pa nhưng đóng vai trò như là một lãnh thổ tự trị đặt dưới quyền bảo hộ của triều đình Việt Nam.

Đến năm 1832, vua Minh Mạng đã sáp nhập hoàn toàn vùng đất này vào lãnh thổ Đại Nam khi đó và 
người Chăm chính thức trở thành một thành phần dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ thời điểm này.

Như vậy, vương quốc Chăm Pa có thể tồn tại được ít nhất 1.640 năm, tính từ năm 192 đến năm 1832. Còn nếu theo luận điểm của học giả Đào Duy Anh cho rằng nhà nước Lâm Ấp (tiền thân của nước Chăm Pa) thành lập từ năm 137 thì vương quốc Chăm Pa tồn tại được gần 1.700 năm
 

Người Chăm hiện sống ở đâu nhiều nhất?


Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 triệu người Chăm, trong đó tập trung đông nhất là ở Campuchia với trên 950.000 người, được gọi là Khmer Islam. Ở Việt Nam, có gần 180.000 người Chăm sinh sống, địa bàn cư trú của dân tộc Chăm chủ yếu phân bố ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Định, thành phố Hồ chí Minh ... với nhiều phong tục rất độc đáo cần được bảo tồn. 

Hi vọng bài viết trên đã giúp bạn đọc hiểu rõ tên gọi Chăm Pa có nghĩa là gì, tên gọi Chăm Pa có từ khi nào, kinh đô của Chăm Pa nằm ở đâu, vương quốc Chăm Pa tồn tại bao lâu. Hãy để lại bình luận bên dưới hoặc xem thêm các bài viết thú vị khác trên Atabook.com.

Chú thích

[1] Tiếng Sanskrit tức là tiếng Phạn hay Phạn ngữ. Đây là một cổ ngữ Ấn Độ, còn được gọi là bắc Phạn để phân biệt với tiếng Pali là Nam phạn.


[2] Đúng ra nên dùng từ bi minh (碑銘  - tấm bia khắc trên đó những lời răn) hoặc bi văn (碑文 - tấm bia  khắc trên đó những bài thơ, bài văn, những truyền sử...). Các từ Bi (碑) và  (記), trong ngữ pháp chữ Hán, đều không tìm thấy có sự phối hợp tổ hợp từ bi ký nào để chỉ về bất cứ điều gì, lại càng không thể có bi ký với nghĩa là tấm bia đá có khắc chữ theo cách nói của chữ Hán được.

[3] Một số tài liệu ghi nhận có 5 quốc gia gồm Hồ Tôn, Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành, Thuận Thành.

[4] Chữ dùng của Maspero

Tham khảo

• Dohamide - Dorohiem, Dân tộc Chàm lược sử, Sài Gòn, 1965


• Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam (tập 1), NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983

• Lê Xuân Diệm, Về tên gọi Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành và Chăm-Pa, Kỷ yếu hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ hai, 2004

 https://www.wisdomlib.org/definition/champa
 

Sách hay dành cho bạn đọc muốn tìm hiểu về văn hóa Chăm


Nghệ Thuật Chăm Pa Nghiên Cứu Kiến Trúc Và Điêu Khắc Đền Tháp  là một tác phẩm cốt yếu để tìm hiểu về lịch sử nghệ thuật Champa và là công cụ tốt để thu thập kiến thức về lịch sử của Nagara Champa (vương quốc Champa) và thật ra là của Việt Nam

Lưu Dấu Chăm-Pa: Cố Đô Simhapura - Trà Kiệu (Thế Kỷ I-XI) cung cấp nhiều thông tin quan trọng vào giai đoạn cuối của vương quốc Chiêm Thành/ Chăm-pa tại vùng Quảng Nam
Bình luận (0)