Đồng cam cộng khổ là gì | Atabook.com
Cập nhật lần cuối vào ngày 07/11/2022

Đồng cam cộng khổ là gì?

Quang Nguyễn
Quang Nguyễn 

Đồng cam cộng khổ nghĩa là chia ngọt sẻ bùi, vui sướng cùng hưởng, cực khổ cùng chịu, dù trong hoàn cảnh nào cũng đều có nhau, chia sẻ cùng nhau.  

 
Đồng cam cộng khổ + tiếng Hoa
 

Tại sao gọi là đồng cam cộng khổ?


Về từ nguyên, đồng cam cộng khổ là phiên âm Hán Việt của thành ngữ Trung Quốc 同甘共苦 (đọc là tóng gān gòng kǔ). 

Quyển Từ điển thành ngữ điển cố Trung Quốc do Lê Huy Tiêu biên dịch, cho rằng đồng cam cộng khổ có nguồn gốc từ Hoài Nam Tử (thiên Binh Lược Huấn): "Tướng lãnh phải đồng cam khổ với binh lính, cùng chịu đói chịu lạnh với họ, có thế binh sĩ mới có thể hết lòng vì mình. Đời sau đổi đồng cam khổ thành đồng cam cộng khổ".

Phần đông ý kiến cho rằng thành ngữ đồng cam cộng khổ bắt nguồn từ câu chuyện Yên Chiêu Vương cầu hiền vào thời Chiến Quốc. Cụ thể như sau:

Năm 314 TCN, nước Yên xảy ra đại loạn vì nội chiến. Nước Tề nhân cơ hội đó đã đem quân sang đánh và nhanh chóng chiếm được kinh đô nước Yên, sát hại vua Yên khi đó là Yên Vương Khoái. Nước Trung Sơn ở gần đó cũng nhân cơ hội đánh chiếm một phần lãnh thổ nước Yên khiến nước này gần như diệt vong.

Năm 311 TCN, do quân và dân Yên kiên trì chiến đấu, cùng với việc các nước Triệu, Hàn, Tần, Sở liên tục gây áp lực nên cuối cùng Tề phải rút quân về nước.

Lúc này, công tử Chức (1) (tên thật là Cơ Chức) – con của Yên Vương Khoái, vốn đang làm con tin ở nước Hàn, được Triệu Vũ Linh Vương nước Triệu sai Nhạc Trì hộ tống trở về nước làm vua Yên, trở thành Yên Chiêu Vương.

Yên Chiêu Vương lên ngôi trong bối cảnh nước Yên khi đó bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, đồng ruộng khô cằn, người dân thống khổ vì sự tàn bạo của quân Tề trong 3 năm bị chiếm đóng. Ông quyết tâm phục hưng nước Yên và thề diệt nước Tề để rửa hận.

Yên Chiêu Vương tìm đến Quách Ngỗi (2) - một hiền giả của nước Yên khi đó, hỏi kế sách để thực hiện ý muốn của mình. Quách Ngỗi lấy câu chuyện bỏ ngàn lạng vàng để mua xương ngựa (3), sau đó nói với Yên Chiêu Vương: Nếu bệ hạ muốn tìm người hiền tài, thì hãy bắt đầu từ tôi. Ngay đến cả Quách Ngỗi sức hèn tài mọn mà còn được nhà vua trọng dụng thì những người có tài hơn tôi sẽ nghĩ sao? Nhất định sẽ từ nơi xa ngàn dặm tìm đến đây thôi.
 

Yên Chiêu Vương nghe theo, cho xây dinh thự nguy nga cho Quách Ngỗi, bái ông làm thầy, hết mực tôn kính. 

Câu chuyện lan truyền ra khắp nơi, nhân tài các nước nghe tin Yên Chiêu Vương thực lòng mến mộ người tài, đều tấp nập đến xin gặp. Trong số đó, nổi tiếng nhất là tướng Nhạc Nghị từ nước Ngụy, đại học sĩ Trâu Diễn từ nước Tề, ...
 
yên Chiêu Vương cầu hiền
Yên Chiêu Vương cầu hiền. Ảnh: 
lllst.com

Yên Chiêu Vương vô cùng trọng dụng và đối đãi tốt với các bậc hiền tài, giao cho họ các chức vụ quan trọng, như cất Nhạc Nghị làm á khanh để chỉnh đốn quốc chính, thao luyện binh mã. Đồng thời, ông đồng cam cộng khổ cùng bách tính, bày tỏ lòng kính trọng với những tử sĩ đã chết trong chiến tranh, thăm viếng những người mới khuất, thăm hỏi người mồ côi, nên chẳng quá 28 năm sau đã biến một nước Yên điêu tàn từ chiến tranh thành một nước Yên hùng mạnh, phát triển cực thịnh, quốc thái dân an. 

Năm 284 TCN, Yên Chiêu Vương phong Nhạc Nghị làm thượng tướng quân, thống soái binh mã năm nước (gồm Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tần) rầm rộ kéo sang đánh Tề khiến nước Tề đại bại, vua Tề bị giết ở thành Cử. Yên Chiêu Vương rửa được mối hận năm xưa. 
 

Ý nghĩa của thành ngữ đồng cam cộng khổ

 
Về mặt ý nghĩa, thành ngữ đồng cam cộng khổ vẫn còn vướng ít nhất hai cách hiểu xoay quanh hai từ cam và khổ mà các nhà ngôn ngữ học hiện nay vẫn chưa thống nhất ý kiến với nhau.

Hán-Việt tự điển của Thiều Chửu thì cho rằng chữ cam (甘) có 6 nghĩa, trong đó nghĩa 1 là "ngọt", nghĩa 3 là "cam làm", "cam chịu". Chữ khổ (苦) cũng có 6 nghĩa, trong đó nghĩa 1 là "đắng", nghĩa 2 là "khốn khổ", "tân khổ". Như vậy nếu xét về mặt chữ thì cam có nghĩa là "ngọt" và "cam chịu" là một chữ, và khổ có nghĩa là "đắng" và "khốn khổ" cũng là một chữ. Từ đây đưa đến hai cách hiểu như sau:

Cách hiểu 1: Đồng cam cộng khổ, với nghĩa cam là "cam chịu", và khổ là "khổ sở", với ý nghĩa là "cùng cam chịu khi khổ sở", nói lên sự đồng lòng luôn có nhau khi gặp hoàn cảnh khó khăn.

Cách hiểu 2: chia ngọt sẻ bùi, sướng khổ có nhau, với cam là "ngọt" và khổ là "đắng", như đã giải thích ở phần đầu. 

Phần lớn các từ điển uy tín như Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Từ điển từ Hán - Việt do Lại Cao Nguyên chủ biên, Từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam của Vũ Dung - Vũ Thùy Anh - Vũ Quang Hào, ... đều giải thích thành ngữ đồng cam cộng khổ như cách hiểu 2 ở trên, nghĩa là cùng chia ngọt sẻ bùi, sướng khổ có nhau.

Hi vọng bài viết trên đã giúp bạn đọc hiểu rõ đồng cam cộng khổ nghĩa là gì, ý nghĩa của đồng cam cộng khổ. Hãy để lại bình luận bên dưới hoặc xem thêm các bài viết thú vị khác trên Atabook.com


Chú thích

(1) Có tài liệu cho rằng Yên Chiêu Vương thực chất là thái tử Bình chứ không phải công tử Chức

(2) Tiếng Hán là 郭隗. Nhiều tài liệu phiên âm là Quách Nguy, Quách Quy, Quách Vĩ, ...

(3) Câu chuyện cầu hiền giữa Yên Chiêu Vương và Quách Ngỗi cụ thể như sau:

Sau khi lên ngôi, Yên Chiêu Vương thân tìm tới thăm Quách Ngỗi, và nói: “Nước Tề nhân lúc ta có nội loạn, đem quân xâm lược. Ta không thể quên mối nhục đó. Nhưng hiện nay, thế nước Yên nhỏ yếu, chưa thể báo được mối thù đó. Nếu có người hiền tài giúp ta báo thù rửa nhục, thì ta xin hết lòng nghe theo. Tiên sinh có thể tiến cử cho một người như thế không?”

Quách Ngỗi vuốt râu suy nghĩ một lát rồi nói: “Muốn tiến cử một nhân tài có sẵn, e rằng thần cũng không nói được. Chỉ xin kể chúa công nghe một câu chuyện”. Rồi ông kể:

"Có một nhà vua rất thích thiên lý mã. Một viên thị thần thăm dò thấy ở nơi xa có một con thiên lý mã rất quý bèn tâu với vua, nếu đưa cho anh ta một ngàn lạng vàng, thì nhất định sẽ đi mua được con thiên lý mã đó. Nhà vua cả mừng, trao cho viên thị thần một ngàn lạng vàng, để đi mua.

Không ngờ người đó tới nơi, thì thiên lý mã đã ốm chết. Viên thị thần nghĩ, nếu về tay không thì sẽ khó ăn nói, liền lấy ra một nửa số tiền mang theo, mua bộ xương con ngựa đó mang về.

Thị thần dâng bộ xương ngựa lên cho nhà vua. Nhà vua nổi trận lôi đình, nói: “Ta sai ngươi đi mua ngựa sống, ai bảo ngươi bỏ tiền ra đi mua xương ngựa về làm gì?”. Viên thị thần bình tĩnh trình bày: “Mọi người biết tin nhà vua bỏ nhiều tiền ra mua ngựa chết, thì sao lại không mang ngựa sống tới cho nhà vua?

Ông vua nửa tin nửa ngờ, nhưng không trách mắng gì viên thị thần nữa. Chuyện đó truyền đi, mọi người đều cho rằng nhà vua đó thực sự yêu quý thiên lý mã. Không tới một năm sau, quả nhiên khắp nơi mang tới khá nhiều thiên lý mã.

Kể xong, Quách Ngỗi nói với Yên Chiêu Vương:  “Chúa công nếu thực sự muốn tìm kiếm người hiền tài, thì cứ thử làm như cách mua xương ngựa xem sao”. 


Tham khảo

• Viện ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003


• Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2009
 

Sách hay dành cho bạn đọc muốn tìm hiểu về văn hóa Trung Quốc  
 

• Thành ngữ Trung Việt thông dụng không những giúp bạn đọc hiểu thêm những thành ngữ Trung Hoa mà còn là một cách học để nhớ lâu và nhanh nhất tiếng Hoa. 

• Đặc điểm văn hóa Trung Quốc qua tranh sơn thủy  
khảo cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về các đặc điểm văn hóa Trung Quốc được biểu hiện qua tranh sơn thủy truyền thống, với chủ thể văn hóa là dân tộc Hán, trong không gian xã hội Trung Quốc, trục thời gian (chủ đạo là giai đoạn cổ – trung đại) kéo dài từ lúc tranh sơn thủy được hình thành đến cuối thời Thanh (1911). 

• Cẩm nang du lịch Trung Quốc  sẽ giúp bạn có được những trải nghiệm tuyệt vời nhất trong chuyến du lịch Trung Quốc với hàng loạt những thông tin thiết thực và gợi ý hữu ích từ các chuyên gia.

Bình luận (0)