Trương Vĩnh Ký | Atabook.com
Cập nhật lần cuối vào ngày 23/07/2021
Trương Vĩnh Ký

Trương Vĩnh Ký

(1837 - 1898)

Trương Vĩnh Ký là một học giả lớn của Việt Nam, một nhà bác học đa năng, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19 và được xem là nhà bác ngữ học (bác học ngôn ngữ) bậc nhất vào thời của ông khi thông thạo 26 thứ tiếng lúc mới 25 tuổi. 


Tiểu sử

Trương Vĩnh Ký lúc nhỏ có tên là Trương Chánh Ký, sinh ngày 6/12/1837 ở ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, Tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre). 
 
Thân sinh của ông tên là Trương Chánh Thi làm chức Lãnh binh triều Minh Mạng, thân mẫu là Nguyễn Thị Châu. Năm ông 8 tuổi, cha ông bị bệnh mất ở Cao Miên (Campuchia) trong một chuyến đi công tác cho triều Nguyễn.

Linh mục Tám, người được ông Thi che chở khi triều đình cấm đạo, đã đề nghị mẹ ông cho ông theo đạo Công giáo, lấy tên là Jean Baptiste Trương Chánh Ký (sau đổi là Trương 
Vĩnh Ký, gọi tắt là Petrus Ký). Khi linh mục Tám mất, linh mục Long (người Pháp, mới qua Việt Nam), đã tiếp dạy Trương Vĩnh Ký chữ La-tinh, rồi giới thiệu ông cho linh mục Hòa (tên Pháp là Belleveaux) đang dạy tại trường Đạo Pinha-lu ở Phnom Penh. Trương Vĩnh Ký theo học trường này, nhờ đó có dịp học thêm tiếng Miên, Lào, Miến Điện, Trung Quốc… với nhiều học sinh cùng trường.

Năm 1851, Trương Vĩnh Ký là 1 trong 3 học sinh xuất sắc được trường Pinha-lu chọn để cấp học bổng đi du học tại Penang bên Malaysia vì ở xứ này có trường Tổng chủng viện (Séminaire général des missions étrangères en Extrême – Orient). Trường này chuyên đào tạo các tu sĩ cho vùng Viễn Đông. Trong thời gian học tại đây (1851-1858), Trương Vĩnh Ký học thêm tiếng Ấn Độ, Anh, Tây Ban Nha, Mã Lai, Nhật, Hy Lạp, Thái, Pháp…

Năm 1858 (21 tuổi), Trương Vĩnh Ký về nước. Cũng năm ấy quân Pháp đánh Đà Nẵng, nên chính sách cấm đạo của triều đình càng gay gắt. Trương Vĩnh Ký không thể ở quê Cái Mơn được nên chuyển qua dạy học ở Trường đạo Cái Nhum của cố Hòa. Năm 1860, ông được linh mục người Pháp Dominique Lefèbvre giới thiệu đến giúp làm thông ngôn cho viên trung tá Hải quân Pháp Jean Bernard Jauréguiberry đang chỉ huy địa hạt Gia Định thay Tổng tư lệnh Rigault de Genouilly đang đưa quân trở ra Đà Nẵng. Thời gian này Trương Vĩnh Ký cũng có dịp làm thông ngôn cho các tướng lĩnh Pháp Charner, Page, Bonard khi các tướng này lần lượt hạ các đồn Chí Hòa, Thuận Kiều, Mỹ Tho, Biên Hòa…

Ông lập gia đình và xây nhà riêng ở quê vợ vùng Chợ Quán – Sài Gòn.

Năm 1862, ông làm thông ngôn cho phái đoàn Pháp ra Huế nghị hòa, buộc triều Nguyễn ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) ở Gia Định nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Sau đó Trương Vĩnh Ký được Pháp cử vào phái đoàn Pháp, cùng phái đoàn Phan Thanh Giản sang Paris nhằm thương lượng chuộc lại 3 tỉnh Nam kỳ (1863). Cuộc thương lượng bất thành, nhưng dịp này Trương Vĩnh Ký được các chính phủ Pháp, Tây Ba Nha ưu ái cho đi tham quan nhiều nước châu Âu.

Năm 1864, Trương Vĩnh Ký trở về nước tiếp tục làm thông ngôn cho soái phủ Pháp ở Nam kỳ.

Năm 1865, ông làm trợ tá cho một quan chức người Pháp – Ernest Potteaux – xuất bản tờ Gia Định Báo, tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Nhưng phải đến năm 1869, chuẩn Đô đốc Ohier mới ký quyết định giao cho Trương Vĩnh Ký làm Giám đốc Gia Định Báo (Huỳnh Tịnh Của làm Chủ bút). Trong thời gian làm báo, ông vẫn là giáo sư nhiều trường do Pháp mở, như Trường Thông ngôn Sài Gòn (Collège des interprètes, tức trường Adran cũ), trường của Sở Công vụ người bản xứ (Services des affaires indigènes), trường đào tạo nhân viên cho Văn phòng Trung ương An Nam (Bureau Central Annamite, do linh mục Legrand de la Liraye điều khiển).

Năm 1870, sứ thần Tây Ba Nha Patocot xin Pháp “cho mượn” Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn trong chuyến đi Huế thương thảo với Nam triều về một hiệp ước thương mại và giao hảo. Thời gian này ông có dịp đi Hong Kong, Ma Cao, Quảng Đông, Quảng Tây… Nhưng cũng chính chuyến đi giúp Tây Ba Nha của Trương Vĩnh Ký đã là duyên cớ sau này một số quan chức Pháp sinh lòng đố kỵ.

Năm 1872, Trương Vĩnh Ký được thăng hàm Tri huyện hạng nhất, đồng thời được bổ làm Đốc học (Giám đốc) Trường Sư phạm, kiêm chức Thư ký Hội đồng châu thành Chợ Lớn.

Năm 1874, ông là giáo sư Trường Hậu bổ (Collège des stagiaires) – tức trường đào tạo quan Tham biện cho bộ máy trực trị của Pháp; rồi sau thay Eliacin Luro làm Giám đốc. Lương ông lúc đó đã đứng hàng thứ ba ở Đông Dương. Ông còn là hội viên của “Hội đồng học chính cao cấp” (còn gọi là “Thượng Hội đồng Giáo dục”), một tổ chức phụ trách việc tiến hành cuộc “chinh phục tinh thần” người dân bản xứ, tiếp theo cuộc “chinh phục bằng vũ lực”.

Năm 1876, ông được Thống đốc Nam kỳ cử ra Bắc kỳ dò xét tình hình báo cáo cho Pháp, chuẩn bị cho cuộc xâm lược Bắc kỳ sau đó.

Năm 1877, Đô đốc Duperré chọn Trương Vĩnh Ký – người An Nam đầu tiên và duy nhất – cử vào làm Ủy viên Hội đồng Cai trị Sài Gòn.

Năm 1883, ông được Hàn Lâm viện Pháp phong chức Viện sĩ.

Năm 1886, nhận Bắc đẩu Bội tinh Ngũ đẳng.

Đặc biệt năm 1886, Tổng trú sứ Trung kỳ và Bắc kỳ Paul Bert vừa sang nhậm chức, đã mời ông ra Huế giúp việc. Ông nhận hàm Tham tá Đệ tam phẩm, sung Hàn Lâm viện thị giảng học sĩ, được bố trí đứng chân trong Cơ Mật viện của vua Đồng Khánh, ông vua do Pháp dựng lên sau biến cố ở Huế 5/7/1885, vua Hàm Nghi cùng cận thần Tôn Thất Thuyết… phải lánh ra Quảng Trị ban Chiếu Cần vương. Với vai trò đó Trương Vĩnh Ký đã góp phần quan trọng giúp Paul Bert đập tan phong trào Cần vương của vua Hàm Nghi. 

Tuy nhiên, khi Paul Bert chết đột ngột vào cuối năm 1886, Trương Vĩnh Ký không được người kế tục Paul Bert tin dùng nên ông lui về Sài Gòn tiếp tục dạy học ở trường đào tạo tham biện (Trường Hậu Bổ) và viết sách.

Lương của ông Trương Vĩnh Ký được ưu ái trả bằng tiền franc, lên đến 9.000 franc, lúc đó tỷ giá 1 đồng bạc Đông Dương = 4 đồng franc; chuyển đổi ra đồng bạc Đông Dương là một số tiền lớn; trong khi lương Tri huyện thời đó là 30 đ/tháng; lương Lại dịch (viên chức thường) là 10 đ/tháng!

Riêng thời gian Trương Vĩnh Ký dành cho việc hoạt động văn hóa là từ khi ông còn rất trẻ, từ năm 1864 đến 1894 (30 năm). Trong lĩnh vực này ông soạn sách dạy chữ Quốc ngữ, phiên âm tác phẩm chữ Nôm, dịch sách chữ Hán ra Quốc ngữ, nghiên cứu các vấn đề về phong tục, lịch sử, xã hội, khoa học tự nhiên… của xứ Nam kỳ và nhiều địa phương khác phục vụ việc tìm hiểu xứ sở, người dân vùng đất mới chinh phục của thực dân Pháp.

Trương Vĩnh Ký mất năm 1898. Phần mộ chôn ở Chợ Quán, nay thuộc quận 5, góc đường Trần Hưng Đạo - Trần Bình Trọng.

Đánh giá

- "Sự hiểu biết tới 26 ngoại ngữ của P. Trương Vĩnh Ký đủ để loài người tôn vinh anh như một nhà bác ngữ học (bác học ngôn ngữ) bậc nhất thời nay" - Nhà văn Pháp Émile Littré (1801 - 1881)

"Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp. Tuy nhiên, người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch... Ông này khi sanh tiền tuy là nhà nước tin cậy mặc dầu chớ chẳng hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẽ cho các quan Lang sa biết phong tục lễ nghĩa của con nhà An Nam. Thiệt là quan thầy của cả và Nam Kỳ..." - Nhà văn Sơn Nam

 
- "Trương Vĩnh Ký không đạo mạo, không đài các, không cao kỳ; ông trai trẻ hơn, ông mới hơn...Và nhờ ông, câu văn Việt được giải phóng khỏi những xiềng xích chữ Hán. Chủ trương của ông chính là "cách nói tiếng An Nam ròng" và viết "trơn tuột như lời nói". Nếu đem phân tích theo ngữ pháp thì thấy lôi thôi, nhưng so với văn xuôi khác ra đời sau ông 20, 30 năm, văn ông vẫn còn hay hơn, mạch lạc khúc chiết hơn". - Giáo sư Thanh Lãng

Các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký có trên trang Atabook.com

Tiểu giáo trình Địa lý Nam Kỳ
Minh Tâm bửu giám
Chuyện đời xưa
Website cùng hệ thống

AtaHome.vn 
Bình luận (0)