Phạm Quỳnh | Atabook.com
Cập nhật lần cuối vào ngày 18/12/2022

Phạm Quỳnh

Atabook.com - Truyền bá tri thức.

Phạm Quỳnh

Phạm Quỳnh (1892 - 1945)


Phạm Quỳnh, tên hiệu là Thượng Chi, vốn là đại thần triều Nguyễn (chức vụ Lại Bộ Thượng Thư). Nhưng trên hết, ông là nhà văn, nhà báo và là danh nhân xuất sắc của Việt Nam thời hiện đại với bút danh Hoa Đường, Hồng Nhân.

Ông là người có công rất lớn trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ trong những đầu thế kỷ 20. Phạm Quỳnh để lại câu nói nổi tiếng: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn". 
 

Tiểu sử


Phạm Quỳnh sinh năm 1892 tại Hà Nội nhưng quê quán là người làng Thượng Hồng, xã Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương.

Năm 1908: tốt nghiệp trường Thông Ngôn Hà Nội (trường Bưởi) rồi làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ khi mới 16 tuổi.


Năm 1916: tham gia viết báo cho một số tờ có uy tín đương thời như Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh.

Năm 1917: sáng lập Nam Phong tạp chí (cùng với 
Louis Marty, Chủ sự Tổng cục An ninh Pháp tại Đông Dương và Nguyễn Bá Trác); đồng thời kiêm chủ bút và chủ nhiệm của tạp chí này đến năm 1932. 

Năm 1919: sáng lập và là Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức.

Năm 1922:  
sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục.

Năm 1924: giảng dạy tại trường Cao đẳng Hà Nội về Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt; đồng thời làm trọ bút báo France - Indochine

Năm 1925
làm Hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ.

Năm 1926
làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ

Năm 1929
được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương.

Năm 1930
đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ.

Năm 1931: giữ chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội.

Năm 1932giữ chức Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ. Cũng trong năm này, Phạm Quỳnh được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền, thôi không làm chủ bút Nam Phong tạp chí nữa. Tại Huế thời gian đầu ông làm việc tại Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1942-1945).

Năm 1945lui về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam (Huế) khi Nhật đảo chính Pháp. Đến ngày 23/08/1945, ông bị Mặt trận Việt Minh bắt và áp giải ra khỏi Huế rồi bị Việt Minh xử tử khi mới 53 tuổi.

Năm 1956: di hài ông được tìm thấy và đưa về cải táng trong khuôn viên chùa Vạn Phước (Huế)

Năm 2016: Phạm Quỳnh được hội đồng họ Phạm Việt Nam và con cháu dựng tượng ở Huế ngay sau phần mộ của ông ở chùa Vạn Phước.

Năm 2018: Phạm Quỳnh 
được Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh 2018 vinh danh là “Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại”. 

Đánh giá

Trong lịch sử Việt Nam thời kỳ cận - hiện đại, Phạm Quỳnh có lẽ là một trong những nhân vật nổi bật nhưng lại có vẻ gây nên nhiều cuộc tranh luận với những ý kiến đánh giá khác nhau nhất. Nói như vậy, dù tán thành hay phản đối, hoặc giữ thái độ chiết trung, mặc nhiên mọi người đã thừa nhận vai trò không thể xem thường của nhân vật nầy trong một bối cảnh lịch sử, văn hóa cụ thể nhất định.

Có thể nói, hầu như ai cũng trách họ Phạm trong đất nước nô lệ chẳng những không đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân một cách tích cực bằng bạo động mà còn a dua theo Pháp. Tuy nhiên, trên thực tế hành động, về chính trị ông chỉ là một người theo chủ nghĩa cải lương bảo thủ, chủ trương chính thể quân chủ lập hiến, gây dựng một nước Việt Nam mới tự trị bằng cách xây dựng một nền giáo dục và quốc học Việt Nam dung hợp những tinh hoa tư tưởng Đông Tây nhằm đào tạo một tầng lớp trí thức mới học hỏi theo những điểm tiến bộ của phương Tây trên cơ sở chấp nhận chế độ thuộc địa và có sự giúp đỡ của người Pháp. Ngay cả điều nầy, xét về kết quả thực hiện vốn rất hạn chế, cả khi nắm được đại quyền trong tay với chức Đổng lý Ngự tiền văn phòng cho triều đình Huế (1932), rồi Thượng thư Bộ Học, Thượng thư Bộ Lại, xem ra Phạm Quỳnh cũng chỉ là một nhà chính trị đầy mộng tưởng.

Nói cách khác, Phạm Quỳnh chỉ là một nhà văn - nhà báo - nhà giáo dục và học giả giỏi chứ không có cái năng khiếu, sở trường lẫn sở thích của một người hoạt động chính trị dù theo chủ nghĩa cải lương hay cách mạng. Về phương diện này, có lẽ ông rất giống với một người đồng thời là Trần Trọng Kim, chỉ làm việc tốt với vai trò của nhà giáo dục - học giả chứ không thể làm chính trị được. Nếu vì những lý do run rủi của cuộc sống, thời cuộc hoặc do nhận thức không chính xác về bản chất của mình mà phải dấn thân vào con đường chính trị với chút ít hi vọng thực hiện một phần hoài bão thì trước sau gì cũng thất bại một cách thê thảm, và cuối cùng cũng phải ngậm thở ngùi than.

Có lẽ ngày nay chúng ta cũng nên bao dung hơn trong sự đánh giá để thấy rằng những quan điểm lệch lạc nếu có nặng nề đi chăng nữa của Phạm Quỳnh lúc bấy giờ cũng chỉ là một chủ trương chính trị bên cạnh nhiều chủ trương loại khác, trong một đất nước mất chủ quyền mà sự phân liệt về tư tưởng, đường lối của hàng ngũ trí thức trong nỗ lực tìm ra một hệ giải pháp là điều hầu như không thể nào tránh khỏi.

Phạm Quỳnh không làm cách mạng nhưng hầu như ông không hề có một lời lẽ nào nói xấu các chí sĩ hoạt động yêu nước. Trái lại, ông coi những người làm quốc sự lúc đó là thành phần khả kính, đứng trên ông một bực, chấp nhận mỗi người một việc theo chí hướng riêng, vì ông không có cái can đảm hoặc hoàn cảnh để làm được như họ.

Bỏ qua tất cả mọi vấn đề thuộc về quan điểm lập trường cùng thái độ, phương cách dấn thân, ai cũng thấy về phương diện cả nhân, Phạm Quỳnh là một người suốt đời làm việc siêng năng tận tụy, không ăn chơi trác táng, thậm chí còn sống khắc khổ nữa là khác.

Ngay trong giai đoạn ra làm quan ở Huế, người ta có thể chê Phạm Quỳnh là không sáng suốt, bất thức thời vụ nầy khác, hoặc cũng ít nhiều ham mê chức vụ (ai mà không ít nhiều như vậy?), và cuối cùng thất bại, nhưng dù sao ông cũng là một ông quan lớn có học vấn uyên bác gần như có thể nói là bậc nhất thời đó, và chưa nghe ai có một lời phê bình ông là kẻ tham quan ô lại hoặc lạm dụng chức quyền cho những mục đích thuần túy cá nhân. Xét về phương diện đó, nếu có ai muốn xếp ông vào hạng chính nhân quân tử thì cũng không phải là điều quá đáng.

Có lẽ nhờ suốt đời tận tụy làm việc, Phạm Quỳnh đã để lại một sự nghiệp văn hóa quả thật đồ sộ.


Tất cả sách / tác phẩm của Phạm Quỳnh có trên Atabook


Phạm Quỳnh
 
1. Văn Minh Luận - NXB Đông Kinh Ấn Quán, Hà Nội, 1927

2. Văn Học Nước Pháp - NXB Đông Kinh Ấn Quán, Hà Nội, 1927

3. Sử Học - NXB Quốc Học Thư Xã, Hà Nội, 1943

4. Lịch Sử và Học Thuyết của Voltaire - NXB Đông Kinh Ấn Quán, Hà Nội, 1930

5. La Poésie Annamite - NXB Đông Kinh Ấn Quán, Hà Nội, 1931

6. Thượng Chi văn tập - NXB Văn Học, 2006

7. Luận giải Văn học và Triết học - NXB Văn Hóa Thông Tin, 2003

Website cùng hệ thống

AtaHome
Bình luận (0)